Ông cha ta đã ra Hoàng Sa bằng cách nào?
(18/01/2012)
|
|
Phác họa ghe mành (trái) và ghe câu (ghe câu) của Jean-Baptiste Pietri (1943)
|
VH- Bằng những chiếc thuyền câu nhỏ cùng ý chí và lòng quyết tâm, ngay từ đầu thế kỷ XVII, ông cha chúng ta đã là những người đầu tiên tới Hoàng Sa.
Sách Phủ biên tạp lục do nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 – 1784) biên soạn năm 1776, có đoạn mô tả việc khai thác của Chúa Nguyễn tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, như sau:
“... Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về...
Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Thứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu và các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lấy được”.
Như vậy, theo Lê Quý Đôn, phương tiện đi biển của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải là “thuyền câu nhỏ” (điếu thuyền).

Ghe câu (mô hình) trưng bày tại Bảo tàng Quảng Ngãi
Học giả Phan Huy Chú (1782 – 1840) trong Lịch triều hiến chương loại chí thì cho rằng, thuyền đi Hoàng Sa là loại “thuyền nhỏ” (tiểu thuyền):
“Các đời chúa Nguyễn đã đặt đội Hoàng Sa 70 người, người làng An Vĩnh thay phiên nhau đi lấy hải vật. Hằng năm cứ đến tháng ba, khi nhận được mệnh lệnh sai đi, phải đem đủ sáu tháng lương thực, chở năm chiếc thuyền nhỏ ra biển, ba ngày ba đêm mới đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ tìm kiếm các thứ; bắt cá ăn, tìm được những thứ của quý của bọn Tàu ô rất nhiều và lấy được hải vật rất nhiều. Đến tháng tám thì đội ấy lại về, vào cửa Yêu Môn (còn gọi cửa Yêu Lục, tức cửa Thuận An) đến thành Phú Xuân đưa nộp”.
Tiểu điếu thuyền, tiểu thuyền hay điếu xá thuyền thực ra là chiếc ghe câu (hoặc ghe câu nhỏ) một phương tiện di chuyển, đánh bắt cá xa bờ, dài ngày của ngư dân vùng duyên hải Nam Trung bộ, đặc biệt là ngư dân Quảng Nam, Quảng Ngãi.
Theo mô tả của cụ Nguyễn Hạp (người xã An Hải, huyện Lý Sơn, Quảng Ngãi), xuất thân từ gia đình ngư dân lâu đời, thì ghe câu có mê (đáy) chìm hẳn dưới nước, đan bằng cật tre dày, trát phân trâu, rồi quét dầu rái lên. Phần phía trên gọi là be làm bằng gỗ chò hoặc gỗ sao, có thể chồng cao hai lớp (be đôi) hay ba lớp (be ba). Cột buồm bằng gỗ kiền kiền. Một số bộ phận khác như các then, sỏ thì làm bằng gỗ mù u. Cây dầu rái, gỗ kiền kiền, gỗ chò, gỗ sao, song mây, cây lá buông (làm buồm)... là những nguyên vật liệu đóng ghe thuyền khá phong phú ở vùng núi rừng phía tây.
Một bậc cao niên Lý Sơn khác là cụ Võ Hiển Đạt (xã An Vĩnh), người phục dựng mô hình ghe câu và ghe bầu hiện trưng bày tại Bảo tàng Hoàng Sa (Lý Sơn) và Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi, cho biết: Ghe câu có chiều dài 10m – 12m; chiều rộng 2m - 2,5m; chiều cao be 0,8m – 1,0m; trọng tải 5 - 6 tấn. Ghe câu nhỏ, đúng như tên gọi, có kích thước nhỏ hơn, trọng tải chừng 3 – 4 tấn.
Trà Quân, Trà Nhiêu, Kim Bồng (Quảng Nam), Lý Sơn, Sa Kỳ, Phú Thọ (Quảng Ngãi), Hoài Nhơn, Quy Nhơn (Bình Định), Đông Tác (Phú Yên), Phan Rang (Ninh Thuận), Mũi Né (Bình Thuận)... là những nơi có các xưởng và thợ chuyên nghiệp đóng ghe câu nổi tiếng trong cả nước. Trong các xưởng này, nhiều người thợ cũng chính là những ngư dân từng có nhiều năm đi biển. Kinh nghiệm đương đầu với sóng gió của họ góp phần quan trọng vào việc xử lý nhiều vấn đề về kỹ thuật đóng ghe thuyền đánh bắt xa bờ.
Cũng như ghe bầu, ghe câu di chuyển chủ yếu nhờ điều khiển sức gió thổi vào cánh buồm, có kết hợp mái chèo những khi cần thiết. Những lúc thiếu gió hay ngược gió, các đà công (thủy thủ) có kỹ thuật chạy “vát” rất độc đáo, bằng cách kết hợp điều chỉnh độ nghiêng của cánh buồm, dầm lái, cân bằng đòn ganh (đòn then) và đặc biệt là sử dụng linh hoạt một bộ phận có chức năng chống dạt, hình đoản đao, gọi là xiểm (lui hạ, xà bát), làm cho ghe vừa tiến về phía trước, vừa giữ được thăng bằng.
Có được ưu thế nhờ sử dụng vật liệu nhẹ, kết cấu phù hợp, ghe câu di chuyển khá nhanh và linh hoạt, với tốc độ từng làm kinh ngạc các nhà hàng hải người châu Âu. Kinh nghiệm đi biển dày dạn của ngư dân và tay nghề khéo léo của người thợ đóng thuyền đã khiến cho các loại ghe câu miền Trung trở thành phương tiện đánh bắt hải sản thuận lợi, bên cạnh đội ngũ thương thuyền (ghe bầu) đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong vận tải đường biển suốt nhiều thế kỷ.
Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là nơi có nhiều rạn san hô, đá ngầm, bãi cạn, khiến việc đổ bộ lên đảo cũng như di chuyển bằng ghe thuyền len lỏi giữa các hòn đảo rất khó khăn, nguy hiểm. Ghe câu chính là phương tiện có thể khắc phục được những trở ngại đó. Thực tế lịch sử cho thấy, với những chiếc ghe câu của mình, ngư dân Nam Trung bộ, trong đó có một bộ phận đáng kể là ngư dân Quảng Ngãi, từ bao nhiêu đời nay đã đặt dấu chân khai phá lên những “hòn chìm, hòn nổi” của các quần đảo ngoài khơi biển Đông, góp phần khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Những điều sơ lược trình bày như trên cũng cho thấy: Ghe câu hoặc ghe câu nhỏ (điếu thuyền, tiểu điếu thuyền, điếu xá thuyền) là phương tiện chủ yếu mà ngư dân Việt đã sử dụng trong các hải trình gian khổ, vượt trùng khơi, đổ bộ, chiếm hữu, khai thác các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, chứ không phải ghe bầu hay ô thuyền, lê thuyền như ngộ nhận của nhiều người, trong đó có không ít nhà nghiên cứu.
Lê Hồng Khánh
|